Trang chủ » Tài Liệu Kế Toán » KHẤU TRỪ 10% THU NHẬP CÁ NHÂN VÃNG LAI TỪ 5 TRIỆU/LẦN CHI TRẢ

KHẤU TRỪ 10% THU NHẬP CÁ NHÂN VÃNG LAI TỪ 5 TRIỆU/LẦN CHI TRẢ

KHẤU TRỪ 10% THU NHẬP CÁ NHÂN VÃNG LAI TỪ 5 TRIỆU/LẦN CHI TRẢ: NÂNG NGƯỠNG 2 TRIỆU SO VỚI TRƯỚC ĐÂY LÀ BƯỚC TIẾN, NHƯNG LIỆU, CHÚNG TA CÓ THỂ ĐI XA HƠN?

Bài viết dưới đây Kế toán hà nội xin chia sẻ bài viết KHẤU TRỪ 10% THU NHẬP CÁ NHÂN VÃNG LAI TỪ 5 TRIỆU/LẦN CHI TRẢ. Các bạn hãy cùng tham khảo thêm nhé.

Một người chạy thiết kế tự do nhận 6 triệu đồng cho một hợp đồng nhỏ, tiền chưa về tài khoản đã bị giữ lại 600 nghìn. Trong khi đó, một nhân viên văn phòng lương 15 triệu đồng/tháng, ký hợp đồng lao động dài hạn, cả năm không phải nộp một đồng thuế thu nhập cá nhân nào. Hai con người, thu nhập tương đương, nghĩa vụ thuế cuối cùng như nhau — nhưng một người bị ứng trước tiền thuế cho Nhà nước, một người thì không.

Câu hỏi đặt ra không phải là ngưỡng 5 triệu đã hợp lý chưa, mà là: cơ chế khấu trừ theo từng lần chi trả này còn nên tồn tại không?

>>Tham khảo thêm: Khái niệm thu nhập vãng lai?

Trước hết, phải ghi nhận một điều sòng phẳng.

Việc Nghị định 253/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 30/6/2026, hướng dẫn Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15) nâng ngưỡng khấu trừ từ 2 triệu lên 5 triệu đồng/lần là một bước đi đúng hướng.

Ngưỡng 2 triệu theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC đã đứng yên suốt hơn một thập kỷ, trong khi mặt bằng giá cả và thu nhập đã đi rất xa.

Nâng lên 5 triệu, hàng triệu khoản chi trả nhỏ lẻ được giải phóng khỏi việc khấu trừ. Ban soạn thảo đã lắng nghe. Nhưng chính vì đã dám sửa, nên càng có lý do để đi trọn con đường: xem lại bản chất của cơ chế này, thay vì chỉ chỉnh con số.

Bất cập thứ nhất nằm ở chỗ khoản khấu trừ 10% về danh nghĩa là tạm thu, nhưng với phần đông người bị khấu trừ, nó trở thành thuế thật. Logic của luật là: giữ trước 10%, cuối năm cá nhân quyết toán, thừa thì hoàn. Nghe rất chặt chẽ trên giấy. Nhưng ai là người nhận thu nhập vãng lai? Chủ yếu là lao động tự do, người làm thời vụ, cộng tác viên, sinh viên làm thêm, người về hưu nhận thù lao giảng dạy — nhóm ít am hiểu thủ tục thuế nhất và ít có khả năng theo đuổi một bộ hồ sơ hoàn thuế nhất.

Với mức giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân (186 triệu đồng/năm theo Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15), một người nhận vài khoản vãng lai 5–7 triệu trong năm gần như chắc chắn chưa chạm ngưỡng phải nộp thuế.

Vậy mà tiền của họ vẫn bị giữ lại từng lần, và nếu họ không biết đường đòi, khoản tạm thu ấy nằm lại vĩnh viễn. Một sắc thuế mà số thu thực tế phụ thuộc vào việc người dân có biết thủ tục hay không — đó không còn là thu đúng, thu đủ, mà là thu nhờ sự lúng túng của người nộp.

Bất cập thứ hai là sự bất bình đẳng theo hình thức hợp đồng.

Cùng một mức thu nhập, người ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên được tính theo biểu lũy tiến, được trừ giảm trừ gia cảnh ngay từng tháng; người không ký hợp đồng hoặc ký dưới 3 tháng thì bị áp thẳng 10% trên tổng thu nhập, không giảm trừ gì cả. Nghĩa là hệ thống đang lấy hình thức pháp lý của quan hệ lao động làm căn cứ thu thuế, thay vì lấy năng lực chịu thuế thực của con người. Trớ trêu ở chỗ, nhóm bị đối xử “nặng tay hơn” lại chính là nhóm yếu thế hơn trên thị trường lao động — những người không có vị thế để đòi một hợp đồng dài hạn. Thị trường lao động Việt Nam đang dịch chuyển mạnh sang làm việc tự do, đa nền tảng, đa nguồn thu nhập; một cơ chế trừng phạt sự linh hoạt ấy là cơ chế đang đi ngược dòng chảy.

Đến đây, sẽ có người phản biện — và phản biện này xứng đáng được trả lời tử tế: luật đâu có bỏ mặc ai, cá nhân ước tính thu nhập cả năm sau giảm trừ chưa đến mức nộp thuế thì cứ làm cam kết, tổ chức chi trả tạm thời không khấu trừ.

Đúng, cơ chế đó có, ngay tại Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Nhưng nhìn kỹ vào điều kiện của nó sẽ thấy cánh cửa này hẹp hơn nhiều so với vẻ ngoài.

Thứ nhất, cam kết chỉ dành cho người chỉ có duy nhất loại thu nhập thuộc diện khấu trừ này — nghĩa là người vừa có lương chính thức ở một nơi, vừa nhận thêm vài khoản vãng lai nơi khác (nhóm đông nhất ngoài đời thực) đã bị loại từ vòng gửi xe, dù tổng thu nhập của họ vẫn chưa đến ngưỡng nộp thuế (đoạn này câu từ trong văn bản đang cho người sử dụng hiểu như vậy).

Thứ hai, cam kết là một lời tiên đoán có ràng buộc pháp lý: người lao động tự do phải ước tính từ đầu năm tổng thu nhập cả năm — thứ mà chính họ cũng không biết trước, vì bản chất công việc là bấp bênh — rồi ký tên chịu trách nhiệm, sai thì bị xử lý theo pháp luật quản lý thuế.

Rủi ro đặt lên vai người yếu thế khiến nhiều người không dám ký; và ở chiều ngược lại, không ít doanh nghiệp ngại nhận cam kết vì sợ liên đới trách nhiệm khấu trừ, chọn cách cứ trừ 10% cho an toàn.

Thứ ba, cam kết không xóa gánh hành chính mà chỉ đổi hình thức: giấy tờ từng nơi chi trả, cuối năm tổ chức vẫn phải tổng hợp danh sách cá nhân đã cam kết gửi cơ quan thuế.

Và trên hết, chính sự tồn tại của cơ chế cam kết là lời thú nhận của hệ thống: nó biết mình đang khấu trừ nhầm cả những người chưa phải nộp thuế, nên phải mở một cửa để người nộp thuế tự cam kết đừng trừ. Một hệ thống đã có dữ liệu thu nhập của từng cá nhân mà vẫn yêu cầu họ tự khai ước tính trên giấy để chứng minh mình nghèo — liệu đó có phải giải pháp?

Cũng theo hướng ấy, Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cá nhân có thu nhập vãng lai bình quân không quá 15 triệu đồng/tháng, đã bị khấu trừ 10%, thì không bắt buộc quyết toán phần thu nhập này.

Thoạt nghe là đơn giản hóa thủ tục, và với người thực sự đến ngưỡng nộp thuế thì đúng là vậy. Nhưng với người chưa đến ngưỡng, “không bắt buộc quyết toán” trong thực tế hành vi đồng nghĩa với việc phần lớn sẽ không quyết toán — và 10% đã bị giữ nghiễm nhiên thành khoản nộp cuối cùng. Quyền đòi lại vẫn còn trên giấy, nhưng thiết kế mặc định đã âm thầm nghiêng về phía ngân sách. Một chính sách tốt phải có mặc định đứng về phía người ngay: không đến ngưỡng thì không bị giữ tiền ngay từ đầu, chứ không phải bị giữ rồi được “miễn” cả cái quyền đi đòi.

Luận điểm tiếp theo khiến đề xuất này thuận chiều hơn bao giờ hết: chính Chính phủ đang chủ động cắt giảm thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, và làm rất quyết liệt.

Minh chứng mới nhất: theo Nghị quyết 66/NQ-CP và Nghị quyết 66.16/2026/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cùng Quyết định 1109/QĐ-BTC ngày 08/5/2026 của Bộ Tài chính, việc kê khai thuế TNCN theo tháng (tờ khai 05/KK-TNCN) đã chính thức được bãi bỏ, toàn bộ chuyển sang kê khai theo quý từ kỳ quý II/2026. Một thói quen thủ tục tồn tại hàng chục năm được cắt gọn không do dự — tinh thần cải cách ấy rất đáng hoan nghênh.

Vậy hãy đặt cơ chế khấu trừ 10% dưới cùng lăng kính đó, sẽ thấy nó đang là một trong những nguồn phát sinh thủ tục lớn nhất của thuế TNCN.

Mỗi lần chi trả là một lần tính thuế, trích tiền, cấp chứng từ khấu trừ điện tử cho từng cá nhân.

Mỗi kỳ kê khai là những dòng thu nhập vãng lai phải tổng hợp trên tờ khai 05.

Cuối năm là các biểu quyết toán kèm theo — bảng kê 05-2BK liệt kê từng cá nhân bị khấu trừ toàn phần — rồi danh sách cam kết phải tổng hợp gửi cơ quan thuế, rồi hàng loạt hồ sơ hoàn thuế nhỏ lẻ dồn về. Lược bỏ cách tạm tính 10% trong năm, cả chuỗi công việc ấy — của kế toán doanh nghiệp lẫn cán bộ thuế — biến mất theo. Nếu bỏ khai tháng giúp giảm tám kỳ kê khai mỗi năm, thì bỏ tạm khấu trừ 10% giảm hẳn một dòng nghiệp vụ chạy suốt bốn mùa: tính, trích, cấp chứng từ, kê khai, bảng kê, cam kết, hoàn thuế. Nói cách khác, đề xuất này không đi ngược chủ trương nào cả — nó là bước tiếp theo, nhất quán và tự nhiên, của chính con đường cải cách mà Chính phủ đã chọn.

Và đây chính là điểm mấu chốt: điều kiện đã chín để bỏ.

Cơ chế khấu trừ từng lần sinh ra trong bối cảnh của những năm trước, khi cơ quan thuế không có cách nào nhìn thấy tổng thu nhập của một cá nhân từ nhiều nguồn, nên buộc phải chặn thu ngay tại nguồn chi trả. Bối cảnh đó đã thay đổi tận gốc. Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 xác lập nguyên tắc quản lý trên nền tảng dữ liệu số; mã số thuế gắn với định danh cá nhân; mọi tổ chức chi trả đều kê khai dữ liệu chi trả về cơ quan thuế. Nói cách khác, cơ quan thuế ngày nay hoàn toàn nhìn được thu nhập lũy kế của từng cá nhân trong năm. Khi đã nhìn được, việc “giữ tiền trước cho chắc” mất đi lý do tồn tại. Hoàn toàn có thể thay bằng một cơ chế văn minh hơn: chỉ khấu trừ khi tổng thu nhập lũy kế trong năm của cá nhân — tính trên dữ liệu tập trung — vượt mức giảm trừ gia cảnh; hoặc tối thiểu, để hệ thống eTax tự xác nhận trạng thái “chưa đến ngưỡng chịu thuế” của từng mã số thuế theo thời gian thực, thay cho tờ cam kết viết tay và lời ước tính đầy rủi ro. Cái mà tờ cam kết đang cố làm bằng giấy và lòng tin, dữ liệu làm được bằng con số và tức thời.

Cũng cần nói cho công bằng: giữ cơ chế khấu trừ tại nguồn có cái lý của nó — chống thất thu với những cá nhân thu nhập vãng lai lớn, nhiều nguồn, khó theo dõi.

Nhưng lời giải cho nỗi lo ấy không phải là giữ 10% của tất cả mọi người, mà là dùng chính dữ liệu để khoanh đúng nhóm rủi ro. Bắt cả triệu người ứng tiền quanh năm chỉ để phòng một nhóm nhỏ trốn thuế — đó là lấy sự bất tiện của số đông làm chi phí cho sự an tâm của cơ quan quản lý, trong khi công cụ dữ liệu đã cho phép làm điều ngược lại.

Nâng ngưỡng từ 2 triệu lên 5 triệu là câu trả lời của năm 2026 cho câu hỏi của năm 2013.

Câu hỏi của giai đoạn tới phải lớn hơn: một hệ thống thuế đã quản lý bằng dữ liệu thì còn cần tạm giữ tiền của những người chưa đến ngưỡng nộp thuế, rồi phát cho họ một tờ cam kết để tự chứng minh điều mà hệ thống vốn đã biết hay không. Người viết tin rằng câu trả lời là không, và tin rằng ban soạn thảo — vốn đã cho thấy thiện chí qua lần nâng ngưỡng này, đã dám bỏ cả kê khai tháng sau hàng chục năm — sẽ còn tiến thêm một bước nữa trong các lần sửa đổi tới.

Còn với kế toán và doanh nghiệp ngay lúc này: quy định tại Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đang có hiệu lực, chi trả từ 5 triệu đồng/lần cho cá nhân không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 3 tháng vẫn phải khấu trừ 10%, nhận cam kết đúng điều kiện và lưu hồ sơ đầy đủ. Góp ý là chuyện của chính sách; tuân thủ là chuyện của hôm nay. Làm đúng cả hai, đó mới là cách người làm nghề tham gia vào việc hoàn thiện pháp luật.

Tham khảo thêm:

Trên đây là bài viết KHẤU TRỪ 10% THU NHẬP CÁ NHÂN VÃNG LAI TỪ 5 TRIỆU/LẦN CHI TRẢ mà Ketoanhn.org tổng hợp được hi vọng giúp ích được bạn trong công việc.

Nếu có bất kỳ thắc mắc liên quan cần giải đáp bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ. Tổng đài hỗ trợ  tư vấn miễn phí: 1900 6246

Ketoanhn.org chúc bạn làm tốt công việc

Kết nối với chúng tôi: https://www.facebook.com/ketoanhn.org/

Nếu bạn muốn học thực tế trải nghiệm va vất cùng kế toán trưởng giàu kinh nghiệm cần trên tay bộ chứng từ bao gồm: hóa đơn đỏ, phiếu thu chi, nhập xuất…của doanh nghiệp đang hoạt động có thể lựa chọn một lớp học kế toán thực hành của  Trung tâm kế toán Hà Nội là đơn vị được thành lập từ năm 2005 đi đầu trong lĩnh vực đào tạo kế toán thực hành trên chứng từ hóa đơn đỏ hiện có 39 cơ sở học trên toàn quốc, 6 cơ sở học tại Hà Nội. Hàng tháng trung tâm vẫn đào tạo cho hơn 1000 học viên trên toàn quốc.

Chi tiết liên hệ Hotline: 0974 975 029  (Mr Quân)

Bài viết liên quan:

Leave a Comment

KẾ TOÁN HÀ NỘI GROUP - TRUNG TÂM ĐÀO TẠO KẾ TOÁN THỰC TẾ

Hotline: 0974 975 029 (Mr Quân)

Email: Hotrokthn@gmail.com

Giấy phép ĐKKD số: 0103648057 cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

Giấy phép đào tạo Kế Toán Thực Hành số: 7619/QĐ-SGD&ĐT cấp bởi Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội.

CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ

CÁC ĐỊA CHỈ HỌC KẾ TOÁN THỰC HÀNH THỰC TẾ CỦA TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

CS1 : Lê Trọng Tấn - Thanh Xuân - Hà Nội
CS2 : Duy Tân - Dịch Vọng - Cầu Giấy - Hà Nội
CS3 : KĐT Sài Đồng - Long Biên - Hà Nội
CS4 : Ngô Thì Nhậm - Hà Đông - Hà Nội
CS5 : 30 Nguyên Hồng - Đống Đa -Hà Nội
CS6 : 124 Lạc Trung - Hai Bà Trưng - Hà Nội
CS7: Cổ Bi – Gia Lâm – Long Biên – Hà Nội
CS8 : Vân Côi – Quận Tân Bình - HCM
CS9 : 35 Lê Văn Chí - Q. Thủ Đức - TP HCM
CS10 : Nguyễn Trãi - Võ Cường - Tp. Bắc Ninh
CS11 : Lạch Tray - Q. Ngô Quyền - Tp. Hải Phòng
CS12 : Đoàn Nhữ Hài - TP Hải Dương
CS13 : Nguyễn Trãi - Q Ninh Kiều - Tp Cần Thơ
CS14 : KĐT Sông Hồng - Lý Nam Đế - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
CS15 : Hoàng Văn Thụ - Tp.Thái Nguyên
CS16 : Hoàng Hoa Thám - Thủ Dầu 1 - Bình Dương
CS17 : Nguyễn Văn Cừ - TP Hạ Long - Quảng Ninh
CS18 : Trần Nguyên Hãn - Tp.Bắc Giang
CS19 : Kim Đồng - Trần Hưng Đạo - Tp Thái Bình
CS20 : Đường Giải Phóng - Tp. Nam Định
CS21 : Trần Cao Vân - Q Thanh Khê - Tp Đà Nẵng
CS22 : Tràng An - p Tân Thành - TP. Ninh Bình
CS23 : Hà Huy Giáp – Biên Hòa – Đồng Nai
CS24 : Quy Lưu - Minh Khai - Phủ Lý - Hà Nam
CS25 : Phong Định Cảng - TP Vinh - Nghệ An
CS26 : Đường Hà Huy Tập - TP Hà Tĩnh
  CS27: Đường Ngô Quyền - TP Huế
CS28: Trần Hưng Đạo – Long Xuyên – An Giang
CS29: Thái Sanh Hạnh – Mỹ Tho – Tiền Giang
CS30: Phan Chu Trinh – TP Vũng Tàu
CS31: 03 p 6 – TP. Tân An – tỉnh Long An
CS32: Võ Trường Toản – Cao Lãnh – Đồng Tháp
CS33: Nguyễn Hùng Sơn–Rạch Giá–Kiên Giang
CS34: Lê Thị Riêng – phường 5 – TP Cà Mau
CS35: Trần Phú – phường 4 – TP Vĩnh Long
CS36: Phạm Ngũ Lão – phường 1 – TP Trà Vinh
CS37: Hai Bà Trưng – phường 1 – TP Bến Tre
CS38: Tôn Đức Thắng – Phường 1 – TP Bạc Liêu